Luận văn So sánh một số giống ngô lai triển vọng vụ hè thu và thu đông tại Đắk Lắk
- Người chia sẻ :
- Số trang : 102 trang
- Lượt xem : 9
- Lượt tải : 500
- Tất cả luận văn được sưu tầm từ nhiều nguồn, chúng tôi không chịu trách nhiệm bản quyền nếu bạn sử dụng vào mục đích thương mại
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn So sánh một số giống ngô lai triển vọng vụ hè thu và thu đông tại Đắk Lắk, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD LUẬN VĂN ở trên
Ngô (Zea mays. L) là một trong những cây ngũ cốc chính có nguồn gốc ở vùng nhiệt ñới và là cây lương thực quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp. Trải qua khoảng 7.000 năm phát triển và qua quá trình chọn lọc tự nhiên, nhân tạo, cây ngô ñã có sự di truyền rất rộng rãi và khả năng thích nghi của nó có lẽ không cây trồng nào có thể sánh kịp (Ngô Hữu Tình và CS, 1997) [23]. Hiện nay, tất cả các nước trồng ngô nói chungñều ăn ngô ở những mức ñộ khác nhau. Toàn thế giới sử dụng 21% sản lượng ngô làm lương thực cho con người. Các nước ở Trung Mỹ, Nam Á và châu Phi sử dụng ngô làm lương thực chính (Trần Văn Minh, 2004) [15]. Ngô không chỉ là cây cung cấp lương thực cho con người, thức ăn cho chăn nuôi mà còn là một trong những nguyên liệu chonền công nghiệp chế biến (khoảng 70% chất tinh trong thức ăn chăn nuôi tổng hợp là từ ngô). Ngô còn là nguyên liệu phục vụ cho các ngành khác như công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, y học Trong những năm gần ñây, cây ngô là nguồn thu ngoại tệ lớn thông qua xuất nhập khẩu của một số nước. Trên thế giới, hàng năm lượng ngô xuất nhập khẩu khoảng 70 triệu tấn (Trần Văn Minh, 2004) [15]. Theo dự báo sản xuất và mậu dịch ngô trên thếgiới năm 2004 – 2005, xuất khẩu ngô ñạt 75,62 triệu tấn. Cây ngô ñược coilà cây ngũ cốc báo hiệu sự no ấm của loài người vì nuôi sống ñược 1/3 dân số trên thế giới (Kuperman, 1977) [52]. Hiện nay năng suất, diện tích và sản lượng ngô trênthế giới không ngừng tăng lên. Theo Trung tâm Nghiên cứu quốc tế cải lương giống ngô và lúa mỳ CIMMYT, tăng trưởng bình quân hàng năm sản xuất ngôtrên thế giới về diện tích là 0,7%, về năng suất là 2,4% và về sản lượng là 3,1% (CIMMYT, 2000) [44].
