Luận văn Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất mủ cao su ở thời kỳ kinh doanh tại tỉnh Đăk Nông

  • Người chia sẻ :
  • Số trang : 86 trang
  • Lượt xem : 8
  • Lượt tải : 500
  • Tất cả luận văn được sưu tầm từ nhiều nguồn, chúng tôi không chịu trách nhiệm bản quyền nếu bạn sử dụng vào mục đích thương mại

NHẬP MÃ XÁC NHẬN ĐỂ TẢI LUẬN VĂN NÀY

Nếu bạn thấy thông báo hết nhiệm vụ vui lòng tải lại trang

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất mủ cao su ở thời kỳ kinh doanh tại tỉnh Đăk Nông, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD LUẬN VĂN ở trên

Cây cao su (Hevea brasiliensis)thuộc Họ thầu dầu (Euphorbiaceae), Bộ ba mãnh vỏ (Euphorbiales) là một cây công nghiệp có nguồn gốc ở lưu vực sông Amazôn (Nam Mỹ), được trồng phổ biến trên quy mô lớn tại Đông Nam Châu Á và miền nhiệt đới Châu Phi từ năm 1876 {2}. Cây cao su được du nhập vào Việt Nam từ năm 1897. Hiện nay cây cao su đang chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần đáng kể cho phát triển công nghiệp trong nước và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinhtế chiến lược của Việt Nam {2}, {15}. Diện tích trồng cao su ở nước ta đến năm 2008 đạt 618.600 ha với sản lượng đạt khoảng 662.900 tấn mủ khô. Để phát triển diện tích trồng cao su đáp ứng nhu cầu nguyên liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu, Chính phủ có chủ trương đưa diện tích cao su lên 1.000.000 ha vào năm 2020, chủ yếu là khu vực Tây Nguyên và miềnĐông Nam Bộ {10}, {11}. Đăk Nông là một tỉnh miền núi, có điều kiện để pháttriển nhiều cây công nghiệp như cao su, cà phê, ca cao.Diện tích cao su hiện có khoảng 13.089 ha, trong đó diện tích đã đưa vào khai thác khoảng 2.476 ha, song chất lượng vườncây có nhiều biểu hiện kém, năng suất mủ khá thấp (10-12 tạ mủ khô/ha/năm) so với miền Đông Nam bộ là 15-18 tạ mủ khô/ha/năm. Vậy nguyên nhân nào đã hạn chế năng suất mủ cao su tại Đăk Nông? Cần có những biện pháp khắc phục gì để giữ vững và nâng cao năng suất mủ cao su trên nền đất màu mỡ này? Đây là vấn đề bức xúc của các cơ sở sản xuất cao su tại Đắk Nông trong giai đoạn hiện nay. Mỗi loại cây trồng đòi hỏi một điều kiện tự nhiên và kỹ thuật chăm sóc khác nhau để sinh trưởng phát triển đạt năng suất cao. Đối với cây cao su, các yêu cầu trên không quá khắt khe, nhưng qua điều tra thực tế tại Đăk Nông thấy xuất hiện nhiều yếu tố hạn chế năng suất mủ cao su: Khí hậu Đăk Nông phân làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa khá lớn (350 mm/tháng), mưa nhiều ngày (22-25 ngày/tháng) ảnh hưởng rất lớn đến công tác cạo mủ và thu gom mủ. Những ngày có mưa buổi sáng công nhân thường cạo trễ, thu mủ sớm hoặc nghỉ cạo; đây là nguyên nhân chính làm giảm năng suất mủ trong mùa mưa. Ngoài ra, ẩm độ cao, nhiệt độ cao tạo điều kiện thuận lợi cho các loại bệnh hại, đặc biệt là bệnh loét sọc mặt cạo, bệnh thối mốc mặt cạo trực tiếp làm giảm lượng mủ. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ thấp (20-21 0 C), gió mạnh (4-5 m/s), ẩm độ không khí và ẩm độ đất rất thấp. Các tháng này hầu như không mưa gây nên hiện tượng khô hạn khắc nghiệt, chính khô hạn và gió mạnh là hai yếu tố hạn chế thời gian chảy mủ làm giảm năng suất mủ trong mùa khô và đầu mùa mưa. Đất trồng cao su tại Đăk Nông thuộc đất đỏ bazan giàu dinh dưỡng nhưng cũng có những mặt hạn chế nhất định như địa hình phức tạp, chia cắt nhiều, độ dốc lớn gây xói mòn nghiêm trọng nên càng tăng nhanh quá trình suy thoái đất. Hàm lượng dinh dưỡng khoáng khá cao nhưng tỷ lệ giữa các dinh dưỡng khoáng không cân đối so với yêu cầu của cây cao su, phần nào ảnh hưởng đến khả năng hấp thu dinh dưỡng và sản xuất mủ của cây. Mặt khác, các yếu tố kỹ thuật không được tuân thủ nghiêm ngặt, đầu tư chưa đúng mức và không đồng bộ. Vấn đề bảo vệ bồi dưỡng cải tạo đất chưa được chú trọng, bón phân không đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cây, công tác dự tính dự báo phòng trừ bệnh hại chưa kịp thời, kỹ thuật khai thác chưa đảm bảo. dẫn đến chất lượng vườn cây kém, mật độ cây cạo thấp, năng suất vườn cây không cao.