Luận án Nghiên cứu tính chất điện hóa của thuốc nổ TNT trên các vật liệu điện cực khác nhau nhằm ứng dụng trong phân tích môi trường

  • Người chia sẻ :
  • Số trang : 152 trang
  • Lượt xem : 8
  • Lượt tải : 500
  • Tất cả luận văn được sưu tầm từ nhiều nguồn, chúng tôi không chịu trách nhiệm bản quyền nếu bạn sử dụng vào mục đích thương mại

NHẬP MÃ XÁC NHẬN ĐỂ TẢI LUẬN VĂN NÀY

Nếu bạn thấy thông báo hết nhiệm vụ vui lòng tải lại trang

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Nghiên cứu tính chất điện hóa của thuốc nổ TNT trên các vật liệu điện cực khác nhau nhằm ứng dụng trong phân tích môi trường, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD LUẬN VĂN ở trên

TNT là một trong những chất nổthông dụng nhất cho các ứng dụng của quân đội và công nghiệp. Theo tài liệu nghiên cứu [1] thì TNT là chất có tỉlệ pha trộn nhiều nhất trong các hỗn hợp nổ. Một sốloại thuốc nổcó thành phần chính là TNT: Amatol, Baratol, Comp-B (CompositionB), Octol, Pentolite, Torpex, Tritonal. TNT xâm nhập vào môi trường gây ô nhiễm chủyếu qua nước thải và chất thải rắn từcác nhà máy sản xuất thuốc nổ, từquá trình chế tạo và phá hủy bom mìn, lựu đạn hay từ quá trình tái chếchất nổ. TNT di chuyển trong nguồn nước mặt đi qua các lớp đất đến nguồn nước ngầm và một lượng nhỏTNT có thể được hấp thụtrong cá và cây cối, nồng độsinh học của TNT trong cây và sinh vật thủy sản là có giới hạn [2, 3]. Theo tài liệu [4], một sốkhu đất thửnghiệm của quân đội hay nước thải từvũkhí, bao gồm nước mặt và nước ngầm, đã bị nhiễm TNT có thể chuyển thành màu tím, những sựô nhiễm nhưvậy gọi là “nước tím”, rất khó khăn và tốn kém đểxử lý. Những nguồn trực tiếp gây nhiễm TNT cho con người là uống nước bị ô nhiễm hoặc da bịtiếp xúc với TNT qua nguồn nước mặt bịô nhiễm , qua sự thải TNT vào khí quyển từcác hoạt động phi quân sựhóa vũkhí hay việc đốt nổvũkhí hoặc bịnhiễm TNT do ăn các loại thực phẩm đã nhiễm TNT được nuôi trồng trên vùng đất ô nhiễm hoặc những thực phẩm bịbụi TNT từkhông khí lắng đọng lên. Đối với những người lao động làm việc trực tiếp với TNT thì nguy cơbịthâm nhiễm là cao hơn hẳn, họcó thểhít thởphải không khí có chứa bụi hoặc hơi TNT, hoặc tiếp xúc trực tiếp với bụi TNT qua da [5]. Khi xâm nhập vào cơthể, TNT gây tác hại rất lớn cho sức khỏe con người như: Gây rối loạn hệ tuần hoàn như bệnh thiếu máu, suy giảm chức năng gan, tác hại đến phổi, tác động vào hệthống miễn dịch, ảnh hưởng bất lợi đối với khảnăng sinh sản của đàn ông và được ghi vào danh sách các chất gây ung thưcho con người [4, 6]. Do đó,rất cần thiết phải đềra phương pháp 2 phát hiện và xửlý lượng TNT tồn dư, đểgiảm thiểu những tác động tiêu cực của nó đến môi trường cũng nhưsức khỏe con người. Nhiều phương pháp đã được sửdụng đểphát hiện TNT trong cảmẫu sinh học lẫn mẫu môi trường. Trong đó, các mẫu sinh học chủyếu sửdụng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC – High-performance liquid chromatography) ghép nối khối phổvà phương pháp HPLC với detector hồng ngoại đểphát hiện TNT. Hai phương pháp này có giới hạn phát hiện cỡppb. Với các mẫu môi trường, phương pháp chủyếu được sửdụng đểphân tích TNT trong không khí là sắc ký khí (Gc – Gas chromatography) với detector bẫy điện tử(ECD – electron capture detection), các phương pháp dựa trên cơ sở là phương pháp phổ khối (MS – Mass spectrometry) như: phổ khối pha loãng ion (IDMS – Ion dilution MS) và phổkhối dẫn điện phát sáng (GDMS – Glow discharge MS) và phương pháp phổ độ linh động ion (IMS – Ion mobility spectrometry) cũng được sửdụng thành công đểxác định hơi TNT trong mẫu khí. TNT và các sản phẩm phân hủy của nó trong nước uống, nước mặt, nước ngầm, nước thải và nước biển thường được xác định bằng các phương pháp HPLC với detector tửngoại (UV) và phương pháp sắc ký khí phân giải cao (HRGC – High resolution gas chromatography) với detector bẫy điện tử (HRGC/ECD). Ngoài ra, phương pháp so màu và quang phổ cũng được sử dụng cho việc phân tích TNT và các mạch dài hiđrocacbon thơm khác. Các phương pháp sắc ký lỏng và sắc ký khí với các detector nhưtrên cũng được dùng đểphân tích TNT trong mẫu rắn.