Luận án Nghiên cứu phát triển giống lúa kháng Rầy Nâu (Nilaparvata lugens Stal) ở Thừa Thiên Huế
- Người chia sẻ :
- Số trang : 174 trang
- Lượt xem : 10
- Lượt tải : 500
- Tất cả luận văn được sưu tầm từ nhiều nguồn, chúng tôi không chịu trách nhiệm bản quyền nếu bạn sử dụng vào mục đích thương mại
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Nghiên cứu phát triển giống lúa kháng Rầy Nâu (Nilaparvata lugens Stal) ở Thừa Thiên Huế, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD LUẬN VĂN ở trên
Cây lúa (Oryza sativaL.) là một trong năm cây lương thực quan trọng nhất của loài người. Trên thếgiới vềmặt diện tích gieo trồng, lúa đứng thứhai sau lúa mì; vềtổng sản lượng lúa đứng thứba sau lúa mì và ngô. Lúa được trồng ở112 nước, là lương thực của hơn 54% dân sốthếgiới (Ngô Thị Đào và Vũ Văn Hiển, 1997) [6]. Đặc biệt ởcác nước Đông Nam Á, lúa là cây lương thực đứng vịtrí hàng đầu do có giá trịdinh dưỡng cao và nhiều công dụng khác; về giá trịkinh tếlúa gạo là mặt hàng xuất khẩu của một sốnước trong khu vực (Nguyễn Minh Công và ctv, 2005) [5]. Cây lúa đã và đang là cây trồng sốmột của nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam, là cây lương thực quan trọng nhất đối với vấn đềan ninh lương thực ở nước ta (Bùi Chí Bửu và Nguyễn ThịLang, 2009) [3]. Diện tích trồng lúa của nước ta hiện nay hơn 7,4 triệu hecta, nhưng nhìn chung năng suất và sản lượng lúa vẫn còn thấp. Một trong những nguyên nhân chủyếu làm cho năng suất và phẩm chất lúa thấp là sâu bệnh. Hằng năm, thiệt hại vềnăng suất lúa xảy ra do các yếu tốnày là rất lớn. Rầy nâu Nilaparvata lugens Stal (Homoptera: Delphacidae) là một trong những đối tượng sâu hại lúa quan trọng nhất hiện nay ởhầu hết các vùng trồng lúa ởViệt Nam. Hàng năm, hàng ngàn hecta lúa, đặc biệt ởcác tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đã bịrầy nâu gây hại và làm giảm sản lượng lúa gạo (Lương Minh Châu và ctv, 2006) [4]. Ngoài gây hại trực tiếp là rầy non và trưởng thành chích hút dịch lúa, làm cây lúa sinh trưởng phát triển kém, gây cháy rầy (nếu mật độrầy cao), rầy nâu còn là môi giới truyền bệnh vi rút lúa vàng lùn, lùn xoắn lá (Phạm Văn Lầm, 2000) [16]. Hiện nay biện pháp hóa học và giống kháng là hai biện pháp chủyếu phòng trừrầy nâu ởViệt Nam. Sửdụng nhiều thuốc trừsâu hóa học đã ảnh hưởng đến thiên địch của rầy nâu, hình thành các chủng rầy nâu kháng thuốc, ảnh hưởng đến hệsinh thái, sức khỏe của người nông dân
