Luận văn Giải pháp quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng tại công ty lâm nghiệp Đăk n’tao, Đăk Song, Đăk Nông
- Người chia sẻ :
- Số trang : 147 trang
- Lượt xem : 9
- Lượt tải : 500
- Tất cả luận văn được sưu tầm từ nhiều nguồn, chúng tôi không chịu trách nhiệm bản quyền nếu bạn sử dụng vào mục đích thương mại
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Giải pháp quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng tại công ty lâm nghiệp Đăk n’tao, Đăk Song, Đăk Nông, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD LUẬN VĂN ở trên
Tài nguyên rừng có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng ñối với cuộc sống của con người. Ngoài việc cung cấp các sản phẩm phục vụ cho việc phát triển kinh tế, xã hội; rừng còn giữ một chức năng quan trọng khác ñó là khôi phục môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai về biến ñổi khí hậu, bảo vệ nguồn nước và cải tạo ñất. Tuy nhiên trong nhiều thập kỷ qua, do quá trình khai thác sử dụng không bền vững ñã làm cho diện tích và chất lượng rừng bị suythoái nghiêm trọng. Theo nhận ñịnh của FAO (2003) trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX,mỗi năm có 0,38% diện tích rừng bị chuyển sang các mục ñích sử dụng khác và cũng trong thời gian này diện tích rừng ñược trồng mới chỉ chiếm 0,16%. Cân bằng chung, diện tích rừng bị mất hàng năm là 0,22%. Nhìn chung, suy thoái rừng là xuthế phổ biến hơn so với cải thiện rừng ở nhiều quốc gia [44]. Ở Việt Nam, năm 1943 diện tích rừng còn khoảng 14,3triệu ha, ñộ che phủ là 43%; ñến năm 1990 chỉ còn 9,18 triệu ha, ñộ che phủ27,8%. Thời kỳ 1980 – 1990, bình quân mỗi năm hơn 100 nghìn ha rừng ñã bị mất [13]. Tuy nhiên trong những năm gần ñây, diện tích rừng ñã tăng lên ñáng kể ñó là nhờ trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên thông qua các chương trình, dự án lớnnhư 327, 661, . Tính ñến cuối năm 2008, diện tích rừng toàn quốc là 13,12 triệu ha, ñộ che phủ là 38,7% [2] nhưng chất lượng rừng và tính ña dạng sinh học (ĐDSH) lại giảm sút ñáng lo ngại. Vấn ñề suy giảm tài nguyên rừng hiện nay không chỉ còn là mối quan tâm của một tổ chức, một vùng hay của một quốc gia mà tình trạng này ñã ñược xác ñịnh là vấn ñề lớn của toàn cầu, là nỗi lo, mối quan tâm của toàn nhân loại. Thực tế ñã chứng tỏ rằng nếu chỉ sử dụng các biện pháp QLR truyền thống như luật pháp, chương trình, công ước thì khó có thể bảo vệ ñượcsố diện tích rừng còn lại của nhân loại, nhất là rừng nhiệt ñới tập trung chủ yếuở các nước ñang phát triển. Một trong những biện pháp quan trọng hiện nay và ñược cả cộng ñồng quốc tế cũng như từng quốc gia ñặc biệt quan tâm là cùng với những biện pháp truyền thống nêu trên, cần phải thiết lập quản lý rừng bền vững (QLRBV) vàchứng chỉ rừng (CCR). Thực hiện QLRBV và CCR sẽ vừa ñảm bảo lợi ích quốc gia – quản lý rừng (QLR) tốt hơn và ñạt ñược cả 3 mục tiêu về kinh tế,môi trường và xã hội; vừa ñảm 2 bảo lợi ích cho chính chủ doanh nghiệp lâm nghiệp khi muốn ñưa các sản phẩm hàng hóa của mình thâm nhập vào thị trường thế giớimột cách thuận lợi và ñạt giá trị kinh tế cao, ñồng thời thực hiện việc QLR có trách nhiệm hơn. Vì vậy QLRBV và CCR là mục tiêu cần phải ñạt tới của ngành Lâm nghiệp, ñiều này ñược thể hiện rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, ñặc biệt là Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai ñoạn 2006 – 2020 Nhànước ñã có Chương trình quản lý và phát triển rừng bền vững. Đây là một trong năm chương trình trọng ñiểm quốc gia về lâm nghiệp có vai trò quan trọng, và lần ñầu tiên xác ñịnh cho ñất nước một lâm phận ổn ñịnh với 16,24 triệu ha: Trong ñó có 8,6 triệu ha rừng sản xuất, phấn ñấu có ít nhất 30% diện tích ñược cấp CCR, cung cấp 20 – 24 triệu m 3 gỗ/năm, ñạt kim ngạch xuất khẩu 7,8 tỷ USD vào năm 2020 [13].
