Luận văn So sánh một số giống ngô lai có triển vọng tại Đắk Lắk
- Người chia sẻ :
- Số trang : 130 trang
- Lượt xem : 9
- Lượt tải : 500
- Tất cả luận văn được sưu tầm từ nhiều nguồn, chúng tôi không chịu trách nhiệm bản quyền nếu bạn sử dụng vào mục đích thương mại
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn So sánh một số giống ngô lai có triển vọng tại Đắk Lắk, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD LUẬN VĂN ở trên
Ngô (Zea mays. L) là một cây ngũ cốc quan trọng có nguồn gốc ở vùngnhiệt đới. Ngô cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người và thức ăn cho chăn nuôi trên toàn thế giới sau lúa mì, lúa nước. Ngày nay, cây ngô được trồng rộng rãi ở nhiều vùng có điều kiện sinh thái khác nhau, cây ngô có tiềm năng cho năng suất cao, chất lượng dinh dưỡng tốt và hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp. Cây ngô có vai trò rất quan trọng trong nềnkinh tế của các quốc gia, nó không chỉ được sử dụng làm nguồn lương thực cho conngười, làm thức ăn cho gia súc mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến. Ngoài ra, ngô còn là nguồn hàng hóa xuất khẩu có giá trị kinhtế cao, mang lại nguồn thu nhập chính cho người dân và nền kinh tế của đất nước. Việc tăng sản lượng ngô trên thế giới đặc biệt là ở Mỹ và các nước Châu Âu,Châu Á dẫn đến việc phát triển công nghiệp chế biến có quan hệ mật thiết vớiviệc phát triển và sử dụng những giống ngô lai năng suất cao. Theo số liệu củaFAO, năm 2009 sản lượng ngô trên thế giới đạt 822,7 triệu tấn trong khi đó lúa mì là 683,8 triệu tấn, lúa nước chỉ đạt 661,8 triệu tấn [16]. Theo quan điểm của các nhà khoa học hiện nay, việc tăng năng suất cây trồng chủ yếu dựa vào giống và phân bón. Giống đượccoi là động lực chính để tăng năng suất và sản lượng cây trồng. Ngô lai là cây điển hình nhất về sự thành công trong ứng dụng ưu thế con lai F1 trong sản xuất nông nghiệp. Tại nước Mỹ, năng suất ngô lai vuợt trên các giống ngô truyền thống từ 1,0 đến 6,0 tấn/ha/vụ, bình quân 2,0 tấn/ha/vụ. Người ta đã tính được rằnggiống đóng góp 60% và kỹ thuật canh tác đóng góp 40% vào mức tăng năng suất,sản lượng ngô [32]. Ở nước ta, ngô được coi là cây lương thực quan trọng thứ 2 sau cây lúa, ở một số vùng sản phẩm ngô hạt còn được sử dụng làm lương thực chính cho con người. Trong những năm gần đây, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng về sản xuất ngô khá nhanh, năm 1990 cả nước có diện tích là 432nghìn ha, năng suất bình quân đạt 1,55 tấn/ha; năm 2000 diện tích lên đến 730 nghìn ha, năng suất đạt 2 2,90 tấn/ha và đến năm 2006 diện tích ngô là 1.032 nghìn ha, năng suất đạt 3,70 tấn/ha [28] . Hiện nay, diện tích ngô của Việt Nam đạt khoảng trên 1,126 triệu ha năng suất bình quân 4,02 tấn/ha, tổng sản lượng đạt4,53 triệu tấn, trị giá gần 1,2 tỷ đô la (tính theo giá khoảng 250USD/tấn năm 2009)[23]. Sở dĩ năng suất ngô ở nước ta tăng nhanh như vậy là do chúng ta đã sử dụng giống ngô ưu thế lai thay thế dần những giống ngô thụ phấn tự do trong sản xuất. Năm 1995 diện tích ngô lai chiếm 30%, đến năm 2000 chiếm khoảng 65% và năm 2009 chiếm khoảng 95% tổng diện tích trồng ngô của cả nước [28]. Thực tế cho thấy diện tích, năng suất và sản lượng ngô của chúng ta tăng nhanh nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thức ăn cho chăn nuôi và phục vụ công nghiệp chế biến trong nước. Hàng năm, các công ty chế biến thức ăn chăn nuôi trong cả nước phải nhập khẩu gần một triệu tấn ngô thương phẩm. Do vậy, việc sử dụng giống ngô lai thay thế giống thụ phấn tự do là một bước tiến quan trọng trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá – hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn theo chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.
