Luận văn Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và thử nghiệm sinh sản ốc nhồi Pila Polita tại ĐakLak
- Người chia sẻ :
- Số trang : 89 trang
- Lượt xem : 9
- Lượt tải : 500
- Tất cả luận văn được sưu tầm từ nhiều nguồn, chúng tôi không chịu trách nhiệm bản quyền nếu bạn sử dụng vào mục đích thương mại
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và thử nghiệm sinh sản ốc nhồi Pila Polita tại ĐakLak, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD LUẬN VĂN ở trên
Việt Nam có hệ thống sông, suối, ao, hồ, ruộng kháña dạng và phong phú, thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển củanhiều loài ốc nước ngọt như: ốc ñá (Cipangopaludina lecythoides), ốc vặn (Sinotaia reevei), ốc nhồi (Pila polita), ốc lác (Pila conica) Bên cạnh giá trị về dinh dưỡng và kinh tế, ốc còn có nhiều lợi ích về mặt y học ñặc biệt là y học cổ truyền như: Ốc ñá (Cipangopaludina lecythoides) dùng ñể chữa nhiệt tích, tiểu tiện không thông, hoàng ñản, cước khí, thủy thủng, sang trĩ, mắt ñỏ sưng ñau, ñinh nhọt ; ốc vặn (Sinotaia reevei) chữa phiên vị (chứng ăn vào nôn ra), hoàng ñản, kiết lỵ, lòi dom (trĩ), mạch lươn, táo bón. Vỏ ốc vặn nung khô, tán bột uống trị ho có ñờm, ñau dạ dày ợ chua, ñau bụng ; ốc nhồi ñược dùng ñể trị tiểu tiện bất thông, chứng vàng da, cước khí (ñau gót chân), thủy thủng,mắt sưng ñỏ ñau, bệnh trĩ ñại tiện ra máu.[4], [15]. Trong các loài ốc nước ngọt, ốc nhồi (Pila polita, Deshayes, 1830), thuộc họ Pilidae, bộ Chân bụng trung (Mesogastropoda), lớp Chân bụng (Gastropoda), ngành Thân mềm (Mollusca). Sự phân bố của ốc nhồi rất rộng, trên thế giới ốc nhồi ñược tìm thấy nhiều ở Inñônêxia, Đông Dương, Trung Quốc (Quảng Đông, Vân Nam) [1], [13]. Việt Nam nói chung và Đăk Lăk nói riêng cũng là một trong những nơi có ñiều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ốc nhồi. Ốc nhồi là loài ñặc sản có giá trị kinh tế (giá bán trên thị trường hiện nay tại các chợ Ea Tam, Tân An, Buôn Ma Thuột của thànhphố Buôn Ma Thuột là 40.000 – 45.000 ñ /1kg). Ốc nhồi có thịt thơm ngon, giàu chất dinh dưỡng nên ñược nhiều người ưa chuộng. Chúng thường ñược chế biến thành nhiều món ăn ngon, có hương vị ñộc ñáo. Theo Bác sĩ Hương Liên, Tạp chí văn hóa nghệ thuật ăn uống ngày 07/10/2007, về thành phần hóa học, trong 100g ốc nhồi có 77,6g nước; 11,9g protid; 7,6g glucid; 0,7g lipid; cung cấp khoảng 86 calo. Nó còn là một thức ăn rất giàu muối khoáng, ñặc biệt là canxi, phospho (1357mg canxi, 191mg phospho trong 100g ốc) và có nhiều loại vitamin (0,05mg vitamin B1; – 2- 0,17mg vitamin B2; 2,2mg vitamin PP ). Chất protid của ốc nhồi cũng thuộc loại tốt, qua phân tích người ta thấy có rất nhiều axit amin cần thiết cho cơ thể như lysine, methionine, phenylalanine, valine, leucine, isoleucine, threonine và tryptophan (8 trên 10 axit amin cần thiết) [12]. Do nhu cầu ốc nhồi ở thị trường khá cao, tình trạngkhai thác ñánh bắt và việc sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật khá phổ biến và không hợp lí nên nguồn lợi ốc nhồi ñang giảm sút một cách ñáng kể. Để ñáp ứng nhu cầu lớn của thị trường về ốc nhồi trong tương lai thì cần phải xây dựng ñược quy trình sinh sản và nuôi ốc nhồi thương phẩm. Vì vậy, cần phải hiểu rõ một số ñặc ñiểm sinh học của chúng. Hiện nay, những công trình nghiên cứu về ốc nhồi chưa nhiều cả ở nước ngoài lẫn trong nước, chủ yếu vẫn tập trung về phân loại.
