Luận án Nghiên cứu nồng độ Protein S100B và NSE huyết thanh ở bênh nhân nhồi máu não giai đoạn cấp tại bệnh viện trung ương Huế

  • Người chia sẻ :
  • Số trang : 189 trang
  • Lượt xem : 9
  • Lượt tải : 500
  • Tất cả luận văn được sưu tầm từ nhiều nguồn, chúng tôi không chịu trách nhiệm bản quyền nếu bạn sử dụng vào mục đích thương mại

NHẬP MÃ XÁC NHẬN ĐỂ TẢI LUẬN VĂN NÀY

Nếu bạn thấy thông báo hết nhiệm vụ vui lòng tải lại trang

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Nghiên cứu nồng độ Protein S100B và NSE huyết thanh ở bênh nhân nhồi máu não giai đoạn cấp tại bệnh viện trung ương Huế, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD LUẬN VĂN ở trên

Nhồi máu não đã và đang là một vấn đề thời sự cấp thiết của y học đối với mọi nước, mọi dân tộc, ở người cao tuổi và cả người trẻ tuổi, không phân biệt nam hay nữ, ở nông thôn hay thành thị. Nhồi máu não thường chiếm 80-90% tỷ lệ tai biến mạch máu não ở các nước Âu Mỹ và các nước phát triển [67], [98], [146]. Ở Hoa Kỳ, theo thống kê năm 2009, tỷ lệ nhồi máu não chiếm 87% tai biến mạch máu não. Theo Donkor E. tại Ghana, tỷ lệ nhồi máu não chiếm 78,1% [49]. Ở Việt Nam, tỷ lệ nhồi máu não tại Thành phố Hồ Chí Minh là 59,58% và tại Huế là 60,58% [7]. Nhồi máu não có thể gây tử vong nhanh chóng, nhưng cũng có thể để lại di chứng gây tàn tật là gánh nặng cho gia đình bệnh nhân và xã hội [80]. Mặc dầu có nhiều tiến bộ đáng kể trên các phương tiện chẩn đoán, điều trị nội khoa hay ngoại khoa, nhưng tỷ lệ tử vong do nhồi máu não vẫn còn khá cao ở những nước phát triển và rất cao ở Việt Nam. Trong những năm gần đây, có nhiều kỹ thuật để nghiên cứu, theo dõi nhồi máu não và dự đoán kết quả điều trị. Khám lâm sàng có nhiều hữu ích trong việc đánh giá chức năng thần kinh và hôn mê sau nhồi máu não nhưng ít giá trị trong đánh giá thể tích nhồi máu não. Những kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ giúp xác định vị trí, thể tích nhồi máu não và chỉ định điều trị thuốc tiêu sợi huyết và thuốc bảo vệ thần kinh để ngăn chặn phá hủy nhu mô não. Tuy nhiên, chẩn đoán hình ảnh tiến hành hằng ngày là điều không thực tế vì rất tốn kém và khó khăn trong việc di chuyển bệnh nhân nặng.