Luận văn Nghiên cứu cơ chế trả lương phù hợp trong các doanh nghiệp khai thác than thuộc tập đoàn công nghiệp than – Khoáng sản Việt Nam
- Người chia sẻ :
- Số trang : 26 trang
- Lượt xem : 9
- Lượt tải : 500
- Tất cả luận văn được sưu tầm từ nhiều nguồn, chúng tôi không chịu trách nhiệm bản quyền nếu bạn sử dụng vào mục đích thương mại
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Nghiên cứu cơ chế trả lương phù hợp trong các doanh nghiệp khai thác than thuộc tập đoàn công nghiệp than – Khoáng sản Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD LUẬN VĂN ở trên
Hoàn thiện cơ chế trả lương cho người lao động, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng kinh tế trong từng thời kỳ, luôn được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Đảng, Chính phủ và các Bộ, Ban, Ngành có liên quan. Hiện nay, tại Việt Nam, cơ chế trả lương trong các doanh nghiệp đã trở thành một hệ thống khá phức tạp, đây là kết quả của quá trình hoàn thiện liên tục cơ chế trả lương từ cơ chế quản lý tập trung bao cấp đến cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Việc cải tiến cơ chế trả lương cũng đã thu hút sự quan tâm bàn luận của các nhà kinh tế thể hiện trên những công trình nghiên cứu [12], [18], [19], [20] v.v. Nhưng cơ chế trả lương vẫn còn những khiếm khuyết có tính hệ thống, đòi hỏi phải có quan điểm và giải pháp sửa đổi đồng bộ, đặc biệt sao cho phù hợp với các doanh nghiệp khai thác than – Vinacomin (DNKTT). Hiện nay, trong cơ cấu tổ chức của Vinacomin có khoảng 20 DNKTT (13 doanh nghiệp khai thác than hầm lò và 7 doanh nghiệp khai thác than lộ thiên), với sản lượng khai thác trung bình hàng năm khoảng 40 45 triệu tấn. Cơ chế trả lương cho người lao động là một trong số những cơ chế quản lý quan trọng tại các DNKTT, phải được xây dựng với đầy đủ các đặc tính của một hệ thống mở, có mục tiêu và tự điều chỉnh. Việc các DNKTT áp dụng các chính sách tiền lương mà Nhà nước quy định chung cho mọi ngành nghề trong nền kinh tế khi xây dựng cơ chế trả lương đã không thể phản ánh đầy đủ đặc điểm hoạt động khai thác than, như: công nghệ khai thác khó cơ giới hóa và tự động hóa, cường độ làm việc cao, diện sản xuất ngày càng xa so với mặt bằng công nghiệp mỏ, địa bàn làm việc xa trung tâm dân cư, tính an toàn và năng suất lao động tương đối thấp, lực lượng lao động tương đối đông đảo, đủ loại ngành nghề, trình độ chuyên môn, chịu ảnh hưởng rất lớn của các điều kiện khách quan như điều kiện địa lý, khí hậu thời tiết, điều kiện tự nhiên (trữ lượng, các điều kiện địa chất khoáng sàng v.v.)
